Mô hình cầu du lịch nội địa của người Úc: một hướng tiếp cận dữ liệu bảng (phần 1) (11.11.2012)
 

David Allen1 and Ghialy Yap 1,*

1 Khoa Kinh doanh và Luật, Đại học Edit, Cowan, Perth, Úc

*Email: choyleey@ecu.edu.au

Tóm tắt

Nghiên cứu này ước lượng thu nhập và độ co giãncủa cầu theo giá du lịch của du lịch trong nước Úc bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận dữ liệu bảng. Khoảng 76% tổng doanh thu du lịch ở Úc đến từ du lịch trong nước nên sẽ rất có giá trị để kiểm chứng liệu những thay đổi trong thu nhập của các hộ gia đình Úc và các mức giá của du lịch trong nước có thể ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch trong nước. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp tiếp cận dữ liệu bảng. Đây là phương pháp đã được sử dụng rộng rãi trong các tài liệu nghiên cứu về nhu cầu du lịch quốc tế, nhưng cho đến nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào sử dụng nó  để nghiên cứu nhu cầu du lịch trong nước. Mô hình được sử dụng cho nghiên cứu này là ứơc lượng bình phương nhỏ nhất 3 giai đoạn (3SLS). Các dữ liệu được lấy theo quý từ năm 1999 đến 2007 trên bảy bang của nước Úc.

Nghiên cứu đã đưa đến một số kết quả đáng chú ý. Đầu tiên, độ co giãn theo thu nhập của những chuyến đi trong nước thăm viếng bạn bè và người thân (VFR) tại Úc có dấu âm, nghĩa là các hộ gia đình người Úc sẽ không chọn đi du lịch trong nước khi thu nhập của hộ gia đình tăng lên.Thứ hai, các biến thu nhập quốc gia có mối tương quan thuận chiều với cầu du lịch công vụ trong nước, chỉ ra rằng cầu phản ứng mạnh đối với những thay đổi về điều kiện kinh tế của Úc.Thứ ba, sự gia tăng giá hiện tại của du lịch trong nướcvcó thể làm cho cầu của các chuyến đivtrong nước giảm vào một hoặc hai quý tiếp theo. Cuối cùng, các hệ của biến phụ thuộc bị trễ có dấu âm, có thể cho biết đó là chuyến đi được thực hiện trên cơ sở định kỳ.

Từ khoá: cầu du lịch trong nước, Úc, dữ liệu bảng

1. Giới thiệu

Du lịch nội địa chiếm ưu thế trong hầu hết các doanh nghiệp du lịch tại Úc. Trong năm tính đến ngày 30 tháng sáu 2007, đã có 74 triệu lượt khách nội địa Úc, trong khi đó số lượng khách du lịch quốc tế chỉ 5 triệu (Travel by Australians:6, 2007). Hơn nữa, khách trong nước đã lưu trú 288 triệu đêm tại Úc, nhưng khách quốc tế chỉ lưu lại 160 triệu đêm. Với nguồn tạo doanh thu du lịch năm 2007 thì tổng chi tiêu của khách du lịch trong nước 43 tỷ đô la Úc, cao hơn tổng chi tiêu của khách quốc tế 1,5 lần. Hơn nữa, du lịch trong nước yếu tố đóng góp cho thu nhập cho lao động trong ngành công nghiệp du lịch. Năm 2007, thu nhập trung bình hàng năm của mỗi người làm việc trong ngành công nghiệp du lịch 26.404  đô la Úc. Trong đó, du lịch trong nước đã đóng góp 15.675 đô la Úc còn du lịch quốc tế là 10.729 đô la Úc. Hơn nữa, trong giai đoạn 2004 đến 2007, khoảng 60% lương từ chi tiêu của khách du lịch trong nước và 40% từ chi tiêu của khách du lịch quốc tế. Mặc thực tế là chi tiêu bình quân của khách du lịch quốc tế tại Úc cao hơn (3702 đô la Úc,  theo International Visitors in Australia: 3, 2008) so với chi tiêu trung bình của mỗi khách du lịch trong nước, nhưng du lịch trong nước đã có những đóng góp đáng kể về mặt kinh tế cho nền kinh tế Úc. Năm 2006-2007, khách du lịch trong nước tiêu thụ 73,7% hàng hoá và dịch vụ du lịch do người Úc sản xuất ra, trong khi đó khách du lịch quốc tế tiêu thụ 26,3% ( Tourism Satellite Account: 2006-2007). Hơn nữa, Tổ chức nghiên cứu du lịch Úc đã công bố các số liệu Tổng giá trị kinh tế trong nước (TDEV) cho du lịch trong nước và tổng giá trị kinh tế (TIEV) của khách du lịch quốc tế tại Úc để đo lường giá trị tiêu dùng của khách du lịch trong nước và quốc tế trong các chuyến đi ở Úc. Họ nhận thấy, trong năm 2008, TDEV 64 tỷ đô la Úc trong khi TIEV là 24 tỷ đô la Úc (Travel by Australians: 3, 2008; International Visitors in Australia: 3, 2008). Nhìn chung, các con số trên cho thấy việc duy trì du lịch trong nước vì ngành này đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động kình doanh du lịch tại Úc.

Một xem xét khác nữa là, trong thời gian xảy ra những sự kiện thế giới bất ngờ, du lịch nội địa của Úc vẫn phát triển thuận lợi trong khi hoạt động du lịch quốc tế phải gánh chịu những ảnh hưởng bất lợi. Ví dụ, khi xảy ra các cuộc tấn công khủng bố vào cuối năm 2001, số lượng khách du lịch nội địa đã tăng 1,66% trong khi khách du lịch quốc tế giảm 5,68%. Tương tự, khi dịch SARS bùng nổ vào năm 2003, số lượng du khách trong nước tăng 0,23% nhưng khách du lịch quốc tế giảm 2,25%. Do đó, hai ví dụ này cho thấy rằng du lịch trong nước có thể giúp duy trì hoạt động kinh doanh du lịch tại Úc khi có sự sụt giảm trong kinh doanh du lịch quốc tế do sự tác động của các biến cố bất lợi.
Tuy nhiên, từ năm 2004, số lượng đêm lưu trú của khách du lịch trong nước tại Úc đã sụt giảm dần dần nhưng số lượng người Úc đi du lịch ở nước ngoài lại tăng đột biết (Bảng 1). Ví dụ, năm 2005, số lượng khách du lịch trong nước giảm 2,93% còn số người Úc đi du lịch ở nước ngoài tăng 16,62%. Hơn nữa, một vấn đề đáng quan tâm là số đêm lưu trú của khách du lịch trong nước được dự báo sẽ tăng rất chậm từ năm 2010 tới 2016 nhưng nhu cầu đi du lịch ra nước ngoài của người Úc sẽ tăng lên (Xem bảng 2). Sự khác nhau giữa du lịch trong nước và ngoài nước của người Úc đã đặt ra vấn đề về những yếu tố thúc đẩy người Úc lựa chọn du lịch nước ngoài hơn trong nước. Lý do bản có thể liên quan đến sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ ở Úc. Giữa năm 2000 và 2006, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người 5,6% và thu nhập khả dụng thực bình quân đầu người là 2,3%. Trong cùng thời gian, chi tiêu tiêu dùng ở Úc có chiều hướng tích cực, tiêu dùng của hộ gia đình tăng 6,2% mỗi năm. Khi thu nhập của hộ gia đình tăng lên trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế cao ở Úc thì người Úc sẵn sàng chi tiêu cho những chuyến đi du lịch nước ngoài sang trọng và thú vị hơn.
Sự không chắc chắn về tương lai của nền kinh tế Úc, các nhân tố cho trước như tăng lãi suất thế chấp và lạm phát, có thể ảnh hưởng đến cầu du lịch trong nước. Theo Uỷ ban nghiên cứu du lịch Úc, các mức giá của hàng hoá và dịch vụ gần đây cao lên, đặc biệt là giá xăng dầu, đã làm giảm một lượng thu nhập từ các khoản chi tiêu sau khi đã trừ các chi phí cơ bản và tạo áp lực lên số lượng và độ dài thời gian của các chuyến đi du lịch trong nước (Forcast: số 2, 2007). Hơn nữa, Crouch et al. (2007) bày tỏ lo ngại rằng những thay đổi trong thu nhập sau khi trừ đi các chi phí cơ bản mà có thể là do việc giảm tiền lương thực tế đưa đến sự thay đổi này đã làm thay đổi lãi suất và/hoặc thay đổi chi phí sống nên đã ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầu du lịch.
Nói chung, du lịch nội địa là một thành phần quan trọng của hoạt động kinh doanh du lịch tại Úc bởi vì đóng góp phần lớn tổng lượng khách du lịch và chi tiêu. Do đó, duy trì hoạt động kinh doanh và tránh làm mất tính cạnh tranh là điều cần thiết. Trong bài nghiên cứu sau đây, chúng tôi kiểm chứng cầu du lịch nội địa của Úc bằng cách xem xét những thay đổi về điều kiện kinh tế ở Úc có làm thay đổi cầu du lịch trong nước hay không. Vì thế, chúng tôi sử dụng phương pháp dữ liệu bảng. 
Giang Thiên
 dịch

Nguồn: 18th World IMACS / MODSIM Congress, Cairns, Australia 13-17 July 2009

http://mssanz.org.au/modsim09
2.0
Các tin tức đã đăng:
   Du lịch nội địa ở New Zealand: Kỳ nghỉ gia đình Kiwi – Phần 2 (10.11.2012)
   Tác động của dịch SARS lên ngành du lịch Hồng Kông (17.10.2012)
   Du lịch nội địa ở New Zealand: Kỳ nghỉ gia đình Kiwi – Phần 1 (16.10.2012)
   Phương pháp Học tập (15.01.2010)