Phương pháp nghiên cứu (18.03.2014)
 

Phương pháp nghiên cứu chính nói chung có thể được phân loại thành các kỹ thuật định lượng hay định tính nhưng đôi khi người ta cũng sử dụng cách tiếp cận kết hợp cả hai. Điều quan trọng là chúng ta hiểu sự khác biệt giữa hai kỹ thuật, những ưu điểm và khuyết điểm của mỗi kỹ thuật và khi nào vận dụng thì thích hợp. Cho dù lựa chọn phương pháp nào thì cũng phải lý giải được vì sao lựa chọn phương pháp đó cho bài cứu của mình.

Ví dụ, chúng ta có thể chọn một kỹ thuật tương tự mà đã được sử dụng trong các nghiên cứu liên quan dựa trên lập luận rằng phương pháp này đã được sử dụng thành công, nó cho phép chúng ta dễ dàng so sánh kết quả. Ngược lại, nếu nghiên cứu về một chủ đề cụ thể đã được thực hiện thông qua sử dụng phương pháp định tính nhưng chúng ta nhận ra được một điểm yếu hoặc một khoảng trống nào đó trong nghiên cứu thì nên đưa ra thêm nghiên cứu định lượng.

Các người hướng dẫn có thể yêu cầu chúng ta giải thích về hướng tiếp cận nghiên cứu (nhận thức luận ). Nếu chúng ta muốn có quan điểm thực tế (thực chứng) thì nên lựa chọn phương pháp định lượng, nếu chúng ta thiên về xác định và thảo luận các chủ đề thì có thể lựa chọn phương pháp tiếp cận định tính.

Trước khi cân nhắc lựa chọn phương pháp, điều đầu tiên cần xem xét là mẫu dự định. Hãy suy nghĩ về đối tượng nghiên cứu - như là con người, thực vật, động vật, sự kiện , quy trình.v.v  - thì sẽ dùng kỹ thuật nào thích hợp nhất? Sau đó chúng ta nên suy nghĩ về cách chọn mẫu.

1. Kỹ thuật chọn mẫu phổ biến

Chúng ta nên lựa chọn mẫu đại diện số đông. Thuật ngữ “số đông” (population) ý nói đến toàn bộ nhóm hoặc phân nhóm người, thực vật, động vật hoặc những thứ mà chúng ta dự định nghiên cứu.

Một khi đã xác định số đông cần nghiên cứu thì chúng ta có thể nhận thấy quá tốn thời gian để khảo sát toàn bộ nhóm. Tuy nhiên, nếu chúng ta chọn mẫu nghiên cứu quá nhỏ thì có thể thấy mẫu này không đủ để đại diện. Việc chọn mẫu lớn tới mức nào thì cần phải dựa vào bối cảnh nghiên cứu. Nên dựa vào các ​​nghiên cứu trước đây để xác định mẫu có thể chấp nhận được hoặc nhờ sự tư vấn của người hướng dẫn.

1.1 Mẫu ngẫu nhiên (random sampling): Đây có lẽ là phương pháp phổ biến nhất và sử dụng kỹ thuật xác suất cụ thể để chọn một tỷ lệ cụ thể. Đầu tiên, cần xác định khung lấy mẫu, tức là cần phải có đầy đủ ( có thể ) danh sách những đơn vị cần khảo sát. Ví dụ, nếu chúng ta khảo sát sinh viên quốc tế tại Đại học Bolton thì cần phải xác định vị trí hoặc lựa chọn danh sách của tất cả các sinh viên quốc tế từ Hiệp hội quốc tế; nếu nghiên cứu người trong một khu vực địa lý cụ thể thì có thể sử dụng thư mục điện thoại; nếu lấy mẫu thực vật hoặc động vật trong của ngành gỗ thì nên phân chia khu vực này thành một mạng lưới . Một khi khung lấy mẫu được xác định, chúng ta cần phải quyết định cỡ mẫu cần thiết và chọn mẫu ngẫu nhiên một cách khách quan. Chúng ta nên dùng phương pháp xác suất để lựa chọn mẫu như chọn tất cả các tên thứ hai trong danh sách , hoặc sử dụng một bảng số ngẫu nhiên. Nếu có thể, chúng ta nên đảm bảo mẫu này đại diện cho toàn bộ số đông bằng cách sử dụng lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng, tức là khung mẫu được chia thành nhóm trước khi lấy mẫu ngẫu nhiên. Trong trường hợp của sinh viên quốc tế, quốc gia khác nhau có thể được nhóm lại với nhau, và lấy ngẫu nhiên số lượng bằng nhau trong mỗi nhóm để đảm bảo mẫu đại diện.

1.2 Mẫu hạn ngạch (Quota sampling): Lấy mẫu hạn ngạch là một phương pháp có mục đích, tức là chúng ta cố tình chọn một nhóm nào đó bởi vì họ có đặc tính riêng. Nó đặc biệt hữu ích cho các nghiên cứu quy mô nhỏ. Lấy mẫu hạn ngạch đòi hỏi phải quyết định trước những đặc điểm đang tìm kiếm và sau đó tìm mẫu đáp ứng đặc điểm này, bằng cách tiếp cận ngẫu nhiên các cá nhân có thể phù hợp với yêu cầu. Chúng ta có thể sử dụng kiến ​​thức hoặc kinh nghiệm riêng để đưa ra quyết định về nhóm khảo sát, ví dụ như sinh viên, nữ trong độ tuổi trưởng thành. Một khi đã chọn đủ người phù hợp với những đặc điểm yêu cầu, chúng ta cần phải giới hạn các đối tượng gần tương xứng với số đông nói chung. Bởi vì phương pháp này có tính chủ quan nên cần chú ý những điểm yếu tiềm ẩn trong báo cáo kết quả nghiên cứu.

2. Các phương pháp nghiên cứu cơ bản

2.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng (quantitative research): chủ yếu liên quan đến các con số, tạo ra bộ dữ liệu để phân tích, đưa ra kết luận cuối cùng. Đây là loại dữ liệu có thể được sử dụng để chứng minh hay bác bỏ một giả thuyết.

Phân tích dữ liệu: dữ liệu bằng số được tạo ra trong bối cảnh nghiên cứu định lượng có thể được phân tích bằng cách sử dụng các phần mềm như SPSS. Dùng SPSS để tiến hành kiểm tra tần số, tương quan, dùng đồ họa như đồ thị, biểu đồ.v.v.

2.1.1 Nghiên cứu thực nghiệm (experimental): Đây là phương pháp định lượng mà sử dụng các thí nghiệm để thu thập dữ liệu đo lường được. Quá trình này phải thực hiện hoàn toàn khách quan, ví dụ chúng ta muốn chứng minh “ăn sô cô la giảm mức độ căng thẳng”, hoặc “phương pháp tốt nhất để dạy đọc”. Các thực nghiệm cần thiết lập nguyên nhân và kết quả giữa các biến phụ thuộc và biến độc lập. Biến phụ thuộc là điều hay hành vi mà nhà nghiên cứu muốn giải thích, ví dụ như sự thay đổi mức độ căng thẳng. Biến độc lập là nhân tố mà các nhà nghiên cứu cho rằng có thể ảnh hưởng đến sự thay đổi, ví dụ như số lượng sô cô la được tiêu thụ. Bất kỳ biến không liên quan nào cũng phải được xác định và công nhận. Biến không liên quan (extranevous variables) là những yếu tố có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và độc lập, ví dụ như giới. Dữ liệu kết quả sẽ được phân tích để chứng minh hay bác bỏ giả thuyết. Chúng ta sẽ cần có kiến ​​thức thống kê để có thể phân tích và thao tác dữ liệu hiệu quả, thông thường là sử dụng gói phần mềm SPSS và EXCEL.

2.1.2 Điều tra và bảng câu hỏi (Surveys – questionnaires): Các cuộc điều tra được sử dụng để chứng minh chân lý phổ quát bằng cách xác định một mẫu tương đối nhỏ để đại diện. Các cuộc điều tra nghiên cứu xã hội thường sử dụng bảng câu hỏi như các kỹ thuật thu thập dữ liệu. Trong các môn khoa học, chúng ta có thể khảo sát các quần thể, ví dụ như thực vật hoặc động vật. Bảng câu hỏi : là phương pháp định lượng thường xuyên được sử dụng nhất. Đây là một tập hợp các câu hỏi bằng văn bản được xác định trước rồi chuyển các nhóm mẫu trả lời. Điều quan trọng là các câu hỏi phải được xây dựng rõ ràng, có chủ đích và được trả lời đầy đủ, trung thực.

2.2 Phương pháp định tính (qualitative research): Phương pháp nghiên cứu định tính được thiết kế để giúp các nhà nghiên cứu hiểu được con người và xã hội và văn hóa mà họ đang sống. Nó có thể liên quan đến mối quan tâm chủ quan hơn, chẳng hạn như nhận thức, cảm xúc, động lực.v.v.  Đây là loại nghiên cứu tìm cách để xác định lý do tại sao có hành vi như vậy. Kỹ thuật phân tích dữ liệu định tính bao gồm phân tích nội dung, phân tích chuyên đề.

2.2.1 Nghiên cứu hành động (action research) đặc biệt hữu ích trong các lĩnh vực y tế, khoa học xã hội và giáo dục. Nó là một phương pháp định tính. Nghiên cứu hành động là một phương pháp kiểm chứng và tìm kiếm câu trả lời cho vấn đề thực tế, thường liên quan đến người dân. Người ta theo dõi lần lượt những thay đổi kết quả, đánh giá và sửa đổi cho phù hợp. Nó áp dụng trong thực tế nhiều hơn là trong tình huống lý thuyết. Ví dụ như các nhà nghiên cứu đóng vai y tá, người đi thăm hỏi sức khoẻ hay giáo viên. Những người thuộc đối tượng của nghiên cứu này thường khuyến khích tham gia tích cực vào nghiên cứu vì lợi ích chung của các nhà nghiên cứu và công trình nghiên cứu. Quá trình này có thể được đại diện bằng một chu kỳ có khả năng không bao giờ kết thúc hoặc xoắn ốc. Nghiên cứu hành động liên quan đến một quá trình đánh giá quan trọng và sự phản ánh về quá trình đó.

2.2.2 Nghiên cứu tình huống (case studies): được sử dụng thường xuyên nhất trong các ngành khoa học xã hội, tập trung vào một vấn đề duy nhất trong bối cảnh của đề tài. Người ta có thể chọn một ví dụ điển hình làm chủ đề nghiên cứu . Ví dụ như khi muốn nghiên cứu việc uống bia rượu ở các thị trấn mới thì có thể chọn Milton Keynes để đại diện cho tất cả các thị trấn mới . Đối tượng được nghiên cứu trong bối cảnh, trong một thời gian dài mà không có thao tác của các nhà nghiên cứu. Nó cho phép nghiên cứu một đối tượng nào đó một cách sâu sắc, chứ không phải là kiểm chứng bề nổi, ví dụ nghiên cứu việc uống bia rượu ở Milton Keynes vào mỗi tối thứ bảy trong một năm, chứ không phải chỉ đến thăm một thành phố mới khác nhau mỗi tuần. Những phát hiện của một nghiên cứu trường hợp duy nhất nên cung cấp cho chúng ta một mô hình có thể áp dụng cho các đối tượng khác như một tổng thể. Đơn giản là, nếu tính trung bình, một người nghiện rượu say ở Milton Keynes là người da trắng, vị thành niên và thuộc một tầng lớp xã hội cụ thể nào đó thì có thể giả định rằng cùng áp dụng ở các thị trấn mới khác . Tuy nhiên, vấn đề này có thể khái quát hóa từ một kịch bản cụ thể tới mức nào. Nghiên cứu trường hợp có thể liên quan đến các phương pháp khác nhau về thu thập dữ liệu, các cuộc phỏng vấn hoặc quan sát thông thường.

2.2.3 Nghiên cứu dân tộc học (Ethnographic research): Đây là nghiên cứu định tính. Mục đích là để hiểu nền văn hóa khác trong khung cảnh tự nhiên của nó, thường là bằng cách tham gia vào cùng người dân để nghiên cứu. Phương pháp này thường được các nhà nhân chủng học nghiên cứu các nhóm văn hóa, hoặc là toàn bộ hoặc nhóm nhỏ sử dụng. Các dữ liệu được thu thập chủ yếu là thông qua quan sát, các cuộc trò chuyện không chính thức hoặc các cuộc phỏng vấn chính thức. Tuy nhiên, điều quan trọng là nhận ra rằng sự hiện diện của các nhà nghiên cứu có thể có ảnh hưởng đến các dữ liệu được thu thập. Một cách nghiên cứu thông thường là quan sát tham dự. Điều này cho phép các nhà nghiên cứu có thể đắm mình trong cuộc điều tra, cho phép họ phát triển một sự hiểu biết sâu sắc về những động cơ và hành động của những người mà họ đang nghiên cứu và có thể tiết lộ quan điểm mà các nhà nghiên cứu có thể không thể dự đoán. Các nhà nghiên cứu có thể quyết định thực hiện quan sát công khai hoặc ngấm ngầm

2.2.4 Phỏng vấn sâu và các nhóm tập trung (In depth interviews & Focus Groups): Các cuộc phỏng vấn có thể được thực hiện trên cơ sở một -một hoặc theo nhóm có quy mô khác nhau. Phỏng vấn nhóm thường được gọi là một nhóm tập trung. Cả hai loại được thực hiện để đạt được cái nhìn sâu sắc về quan điểm của mọi người về vấn đề nghiên cứu của chúng ta. Người điều hành (có thể là chúng ta hoặc người khác) tạo điều kiện thực hiện các cuộc thảo luận, nhưng sẽ cố gắng để giữ mức can thiệp ở mức tối thiểu. Người điều hành giới thiệu các chủ đề hoặc câu hỏi dựa trên các mục tiêu nghiên cứu sao cho không gây ảnh hưởng hay tác động đến câu trả lời. Mục tiêu là để cho những người tham gia nói chuyện với người điều hành mà tập trung vào mục tiêu nghiên cứu – thường là dựa trên kế hoạch được chuẩn bị trước . Chúng ta lựa chọn người trả lời phụ thuộc vào kỹ thuật lấy mẫu nên cần phải suy nghĩ về các dữ liệu được thu thập và phân tích. Người ta thường ghi âm hoặc quay phim lại các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm. Các nhóm phỏng vấn hoặc nhóm tập trung có thể được cấu trúc, bán cấu trúc hoặc không có cấu trúc. Kỹ thuật cấu trúc sử dụng các câu hỏi rất cụ thể. Ngược lại, các cuộc phỏng vấn phi cấu trúc khuyến khích các cuộc trò chuyện để phát triển, đưa ra các cơ hội cho câu trả lời ban đầu và chi tiết hơn. Chúng ta có thể phát hiện các vấn đề mà đã không xem xét trước đó.

Nguyễn Lê Giang Thiên dịch từ http://www.bolton.ac.uk/bissto/Writing-a-Dissertation/Methodology/Research-Methods.aspx

5.0
Các tin tức đã đăng:
   Tư duy vượt giới hạn (16.01.2014)
   Năm lý do để mỉm cười ở phía trước (31.05.2013)
   Bài tập càng nhiều, điểm thi càng thấp (16.01.2010)
   Hoạt động nghiên cứu của Penn State (16.01.2010)