Chuỗi cung ứng cà phê của Nestlé (23.01.2014)
 

Cà phê là thức uống phố biến trên thế giới với hơn 400 tỉ tách cà phê được tiêu dùng mỗi năm. Ngày nay, ta có thể tìm thấy bình cà phê uống liền ở nhiều gia đình trên thế giới và ngày càng nhiều khách hàng đang thử những kiểu cà phê được pha chế khác nhau như  cappuccino, espresso, mocha và latte. Thậm chí, người Anh vốn đã quen với thói quen uống trà thì xu hướng uống cà phê cũng tăng đều, và lượng cà phê tiêu thụ trung bình hàng năm vào khoảng 500g/người. Nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng đa dạng trong việc lựa chọn sản phẩm giá trị và chất lượng, điều đó khiến lượng cà phê làm sẵn tăng lên. Giá trị là một trong những tiêu chí mà người tiêu dùng đánh giá sản phẩm của công ty so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Vậy làm thế nào cà phê hái trên cây sẽ đem lại một tách Nescafe trong nhà bạn, và hàng triệu gia đình khác trên khắp thế giới? Bài viết này sẽ mô tả chuỗi cung ứng cà phê cao cấp của Nestlé, với những mối liên kết chất lượng cao từ nơi cà phê được trồng cho đến cách thức mà họ tiếp cận người tiêu dùng.

Chuỗi cung ứng

Chuỗi cung ứng là chuỗi các hoạt động và quá trình cần thiết để cung cấp sản phẩm cho khách hàng từ nguyên liệu thô đến sản phẩm hoàn thành. Đối với cà phê, chuỗi cung ứng thường phức tạp, và khác nhau ở các nước khác nhau, nhưng thường bao gồm:

- Người trồng cà phê – thường trồng cà phê trên thửa đất nhỏ chỉ từ 1 hoặc 2 hécta. Nhiều người thực hiện luôn cả khâu sơ chế (phơi khô và tách vỏ).

- Người trung gian – những người trung gian có thể tham gia vào nhiều mảng của chuỗi cung ứng. Họ có thể mua cà phê ở bất kỳ giai đoạn nào giữa trái cà phê chín và cà phê non (xanh), sau đó tiến hành sơ chế, hoặc thu gom đủ lượng cà phê từ nhiều hộ nông dân, rồi vận chuyển bán cho người chế biến, cho trung gian khác hoặc cho thương lái.

- Người chế biến – là những hộ nông dân có thiết bị chế biến cà phê,  hoặc nông dân trồng cà phê và người chế biến hợp tác để mua thiết bị chế biến cà phê.

- Đại lý chính phủ - ở một số nước, việc mua bán cà phê do chính phủ kiểm soát, có lẽ bằng cách mua cà phê từ những nhà chế biến với mức giá cố định và bán đấu giá cho nhà xuất khẩu.

- Nhà xuất khẩu – mua cà phê từ các đối tác hoặc đấu thầu và sau đó bán cho các thương lái. Kiến thức chuyên môn về khu vực địa phương và nhà sản xuất cho phép họ đảm bảo chất lượng của chuyến hàng.

- Thương lái – cung cấp trái cà phê cho những người rang cà phê với đúng số lượng, đúng lúc và mức giá có thể chấp nhận cho người mua và người bán.

- Nhà sản xuất – ví dụ như Nestlé có chuyên gia chế biến hạt cà phê tươi thành thức uống được khách hàng ưa chuộng. Công ty cũng có thể tăng thêm giá trị cho sản phẩm thông qua các hoạt động marketing, làm thương hiệu và đóng gói.

- Người bán lẻ - là những người bán cà phê trong siêu thị lớn, cho đến khách sạn và các cửa hàng ăn uống, tạp hóa.

Chuỗi cung ứng chỉ mạnh khi có sự liên kết giữa các thành phần trong chuỗi. Mối quan hệ giữa các tổ chức khác nhau có liên quan đến từng khâu trong chuỗi – dù cho nó thuộc cấu trúc của quá trình phân phối, trình tự thanh toán hay trình tự xử lý và tồn kho sản phẩm. Điều quan trọng cốt yếu của những mối quan hệ này là cách con người đối xử với nhau. Mối quan hệ kinh doanh lâu dài cần dựa trên sự trung thực và công bằng – các bên khi thỏa thuận thương mại phải cảm thấy rằng họ đang có mối làm ăn tốt.

Cà phê phát triển tốt nhất trong điều kiện khí hậu ấm, ẩm với nhiệt độ quanh năm tương đối ổn định vào khoảng 27°C.  

Quy trình

Trái cà phê hái từ cây trải qua một loạt quá trình và kết thúc bằng sản phẩm thương phẩm – hạt cà phê tươi.

1. Hái cà phê – Cà phê được thu hoạch bằng tay. Cà phê chín có mà đỏ tươi, nhưng tiếc là những trái cà phê không chín cùng một lúc. Người ta chỉ hái hạt cà phê chín vào mùa thu hoạch để sản xuất cà phê chất lượng tốt hơn, nhưng làm như vậy đòi hỏi cần nhiều công lao động hơn vì mỗi cây phải được trông coi một vài lần trong mùa thu hoạch. Do đó, nhiều nông dân hái cả trái chín và chưa chín trong một lần thu hoạch.

2. Phơi khô và tách vỏ - Cà phê chín có hai lõi tách nhau bởi các lớp xung quanh – vỏ, cơm, vân vân (như hình). Hạt cà phê phải được sấy khô bằng cách phơi dưới ánh nắng mặt trời, nhưng đôi khi cũng dùng máy sấy công nghiệp.

3. Phân loại, xếp hạng và đóng gói – Hạt cà phê được phân loại bằng tay, sàng và máy để loại sỏi,  tạp chất, những hạt bị hỏng, và phân loại cà phê theo chất lượng hay hạng. Cà phê được đóng gói vào bao tải, thường là 60 kg.

4. Thu gom – Nestlé cần mua lượng lớn cà phê cùng hạng, vì vậy những nhà xuất khẩu của nước đó sẽ gom rất nhiều lô cà phê nhỏ lại để đáp ứng lượng cần thiết.

5. Pha trộn – người rang cà phê, những chuyên gia sành ẩm thực và có nhiều kinh nghiệm sẽ quyết định pha trộn cà phê từ các nguồn khác nhau để tạo ra các loại sản phẩm cà phê, đáp ứng khẩu vị của người tiêu dùng.

6. Rang – Khi rời các đồn điền, cà phê có màu xanh nhạt – vì thế sản phẩm thương phẩm có tên cà phê xanh. Chỉ khi được rang lên, nó mới chuyển sang màu nâu, có hương thơm và mùi vị đặc trưng. Đó là loại cà phê rang và được bán cho người tiêu dùng.

Giá cả

Giá cà phê được xác định từng ngày trên thị trường hàng hóa thế giới ở Luân Đôn, Niu Oat và với rất nhiều nhà trung gian đứng giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, và làm thế nào chúng ta có thể chắc chắn những người trồng cà phê nhận được mức thù lao xứng đáng với công sức họ bỏ ra. Câu trả lời là – một số người tin rằng đối với nhà sản xuất cà phê, để cắt giảm trung gian, họ mua cà phê trực tiếp từ người trồng cà phê nhằm đảm bảo mức giá thấp nhất? Giá cà phê được quyết định bởi mối quan hệ giữa lượng cà phê sẵn có để bán (cung) và lượng mà khách hàng muốn mua (cầu). Ở mức giá hiện thời, nếu cung lớn hơn cầu thì giá cà phê sẽ giảm. Do đó, thị trường sẽ quyết định giá mà người nông dân thu được. Có những trường hợp mà người nông dân có thể nhận nhiều hơn mức giá thị trường, ví dụ như:

 - Nếu chất lượng cà phê của họ cao

 - Nếu họ đảm nhận một vài hoặc tất cả các khâu chế biến

 - Nếu họ bán trực tiếp cho nhà sản xuất chứ không phải là cho trung gian.

Những người trồng cà phê có thể giảm chi phí nếu có thể chia sẻ các trang thiết bị chế biến và vận tải với nhau. Người trồng cà phê có thể bán cà phê theo nhiều cách:

 - Họ có thể bán cho người tiếp theo trong chuỗi cung ứng – người thu mua hoặc người chế biến

 - Họ có thể bán cho đại lý chính phủ - đối với những nước việc kinh doanh cà phê được chính phủ kiểm soát (mặc dù việc này không phổ biến lắm).

- Họ có thể bán trực tiếp cho nhà sản xuất như Nestlé.

Tuy nhiên, nông dân thường không chọn cách tự mình bán cà phê lẻ. Việc bán trực tiếp cho nhà sản xuất khá hấp dẫn vì những người nông dân có khả năng nhận được cao hơn mức giá thị trường. Tuy nhiên, sẽ không thể nào cà phê trên thế giới được mua trực tiếp từ nhà sản xuất, khi họ phải thu gom một lúc chỉ một vài túi từ các hộ nông dân đơn lẻ.

Nestlé đi tiên phong trong việc mua cà phê trực tiếp từ những người trồng cà phê. Tỷ lệ cà phê của công ty mua trực tiếp ngày càng tăng và Nestlé trở thành người mua trực tiếp lớn nhất thế giới. Ở các nước không áp dụng được cách này, Nestlé sẽ lựa chọn hoạt động gần người trồng cà phê ở mức có thể. 

Mua trực tiếp

Ở những nước trồng cà phê cũng có nhà máy Nestlé, công ty sẽ sản xuất cho xuất khẩu và tiêu thụ địa phương, khi đó công ty có chính sách mua trực tiếp từ người nông dân. Công ty cung cấp giá tốt cho nông dân, và vì vậy đảm bảo nguồn cung thường xuyên, chất lượng đảm bảo cho các nhà máy của mình.  Chất lượng cao hơn đòi hỏi mức giá cao hơn (cà phê thượng hạng) và Nestlé vui vẻ chấp nhận, vì chất lượng nguyên liệu thô tốt là điều vô cùng cần thiết. Việc mua trực tiếp diễn ra ở nhiều nước thì giá của Nestlé được quảng cáo rộng rãi và mức giá cơ bản thấp nhất. Bằng việc cung cấp mức giá tham khảo cho người trồng cà phê, những nhà thương mại buộc phải giữ mức giá cạnh tranh.

Nestlé bắt đầu chính sách mua trực tiếp vào năm 1986 và lượng mua tăng lên ổn định.  Vào năm 1998, khoảng 15 phần trăm cà phê xanh được mua trực tiếp. Lấy ví dụ ở Philippines, nông dân đem nông sản của họ đến trung tâm thu mua Nestlé  đặt tại vùng trồng cà phê. Người nông dân trồng cà phê chờ Nestlé phân tích chất lượng và sau đó họ được trả tiền ngay tại chỗ. Vào năm 1998, thu mua trực tiếp chiếm hơn 90 phần trăm lượng cà phê xanh dự trù cho các nhà máy chế biến cà phê uống liền.

Mua cà phê từ thương lái

Ở những nước như Anh, thật là không đơn giản đối với những công ty như Nestlé  nếu mua cà phê từ hàng trăm hàng ngàn hộ nông dân, và do đó cà phê sẽ được mua từ các thương lái trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, Nestlé đến thăm và làm quen với rất nhiều người trong chuỗi cung ứng. Công ty giám sát mối quan hệ giữa thương lái và nhà xuất khẩu, và thường mời nhà vận chuyển đến Anh để huấn luyện nhân viên đảm bảo chất lượng. Nestlé đồng ý với quy trình từ kiểm soát rắc rối cho đến cách gói hàng để đảm bảo mọi người đều làm việc hướng tới tiêu chuẩn chất lượng cao nhất.  

Nestlé Việt Nam

Từ tháng 3 năm 2011, Nestlé Việt Nam đã chính thức hình thành Phòng Hỗ trợ Nông nghiệp (ASD)  để triển khai Chương trình Phát triển cà phê bền vững trên nền tảng 4C (Bộ Nguyên tắc chung cho cộng đồng cà phê thế giới 4C - Common Code for Coffee Community), tập trung trước mắt tại 4 tỉnh Tây Nguyên gồm Lâm Đồng, Dak Lak, Dak Nông và Gia Lai. Ngay khi vừa thành lập, bộ phận Hỗ trợ nông nghiệp (ASD) đã hỗ trợ bà con nông dân tại Huyện Di Linh, Tỉnh Lâm Đồng trong việc thực hiện thành công chứng nhận sản xuất cà phê bền vững theo tiêu chuẩn 4C cho 175 nông dân và 2 đại lý thu mua cà phê trực thuộc Nestlé Việt Nam, đây là một trong những thành công bước đầu của Bộ phận Hỗ trợ nông nghiệp và là lần đầu tiên Nestlé Việt Nam được cấp chứng chỉ chứng nhận 4C.

Tạo ra những tách cà phê tuyệt vời không chỉ là công việc kinh doanh của Nestlé, mà đó còn là việc kinh doanh của bất cứ ai trong chuỗi cung ứng.  Trồng cà phê vừa là công việc yêu thích vừa tạo ra thu nhập cho nông dân. Điều này đảm bảo rằng họ sẽ tiếp tục trồng cà phê, đầu tư vào cả sản lượng và chất lượng, và đổi lại nó sẽ đảm bảo nguồn cung cà phê đạt chất lượng yêu cầu cho những công ty như Nestlé.

------

Trần Phương Trang

Nguồn tham khảo:

- Consumption Facts – Realcoffee.co.uk

- Coffee – The Supply Chain – The Time 100 Business Case Studies.

- Nestlé hỗ trợ canh tác nông nghiệp bền vững và phát triển nông thôn - http://www.nestle.com.vn

2.5
Các tin tức đã đăng:
   Chứng khoán phái sinh (19.01.2014)
   Khuôn khổ phân tích hợp tác liên chính phủ - trường hợp du lịch ASEAN (phần 2) (19.01.2014)
   Khuôn khổ phân tích hợp tác liên chính phủ - trường hợp du lịch ASEAN (16.01.2014)
   Tìm hiểu về các tổ chức nhận tiền gửi Hoa Kỳ (16.01.2014)