Khuôn khổ phân tích hợp tác liên chính phủ - trường hợp du lịch ASEAN (phần 2) (19.01.2014)
 

2. Kết quả tìm thấy

2.1 Đánh giá về tiến trình hợp tác của các nước ASEAN

Powell (1994 ) lập luận rằng tính hiệu quả và khả năng phục hồi của một thể chế quốc tế như ASEAN là những yếu tố cơ bản để đánh giá tầm quan trọng của thể chế. Một thể chế có hiệu quả trong phạm vi được các thành viên tuân thủ chuẩn mực và quy tắc cũng như đáp ứng mục tiêu của mình bằng cách tăng cường hợp tác ( Hasenclever , Mayer & Rittberger năm 1997; Underdal năm 1992; Young, 1994 ). Khả năng phục hồi thể chế dùng để chỉ "sức mạnh tiềm ẩn" của các tổ chức quốc tế khi đối mặt với những thách thức từ bên ngoài và mức độ lựa chọn về các quyết định tập thể và hành vi trong các giai đoạn sau đó ( Powell , 1994:341 ). Nói cách khác , các tổ chức thay đổi cùng với sự giao quyền lực giữa các thành viên hoặc bất cứ khi nào những người tham gia mạnh nhất thấy rằng các thể chế hiện tại không phục vụ lợi ích của họ nữa, thiếu đi khả năng phục hồi (Hasenclever et al. , 1997). Khái niệm về hiệu quả thể chế có thể được áp dụng ở đây để đánh giá mức độ tiến bộ của ngành du lịch ASEAN , tức là mức độ mà các thành viên tuân thủ quy tắc và đáp ứng mục tiêu. Mục 3.2.1 đề cập đến sự thay đổi của lãnh đạo và sự thay đổi tiếp theo về những ưu tiên của các chính phủ đã góp phần hạn chế sự phát triển của ngành du lịch ASEAN. Powell gọi đó là sự thiếu khả năng phục hồi thể chế .

Hiện tại hợp tác du lịch ASEAN được thực hiện dựa trên khuôn khổ chính sách của Hiệp định Du lịch ASEAN 2002. Hiệp định có bảy mục tiêu (ASEAN, 2002 )

(1) Hợp tác thúc đẩy du lịch đến và đi trong khu vực ASEAN.

(2) Tăng cường hợp tác du lịch giữa các quốc gia thành viên ASEAN để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của mình.

(3) Làm giảm đáng kể các hạn chế thương mại và dịch vụ du lịch giữa các quốc gia thành viên ASEAN.

(4) Để thiết lập một mạng tích hợp của ngành du lịch và dịch vụ lữ hành để tối đa hóa tính bổ sung cho các điểm du lịch của khu vực.

(5) Tăng cường sự phát triển và thúc đẩy ASEAN như một điểm đến du lịch duy nhất với các tiêu chuẩn, cơ sở vật chất, và điểm thu hút đẳng cấp thế giới.

(6) Tăng cường hỗ trợ lẫn nhau để phát triển nguồn nhân lực và tăng cường hợp tác để phát triển, nâng cấp và phát triển cơ sở du lịch và dịch vụ trong khối ASEAN.

(7) Để tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực công và tư nhân tham gia sâu hơn trong việc phát triển du lịch, du lịch nội khối ASEAN và đầu tư vào dịch vụ du lịch.

Năm 2004, Lộ trình hội nhập của ngành du lịch được các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (AEM) đề xuất như là một kế hoạch hành động để thực hiện bảy mục tiêu đã thỏa thuận. Việc thực hiện tích hợp giữa các ngành kinh tế khác nhau dự kiến sẽ được hoàn thành vào năm 2015 với nỗ lực thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (ASEAN , 2006). Phần này cung cấp tổng quan về sự tiến bộ của ASEAN để đánh giá được Lộ trình hội nhập. Đánh giá mức độ đạt được mục tiêu hoặc việc đáp ứng được thời hạn đã đề ra trong kế hoạch hành động.

Có thể thấy trong bảy mục tiêu thì chỉ có 2 mục tiêu được thực hiện đáng kể là Mục tiêu 1 - tạo điều kiện đi lại và Mục tiêu 6 - phát triển nguồn nhân lực. Để tạo thuận lợi cho việc đi du lịch trong khu vực, các thành viên đã kỳ Hiệp định khung về miễn thị thực vào năm 2006. Điều này cho phép công dân ASEAN đi du lịch trong khu vực không cần thị thực trong hai tuần. Đây là một bước rất quan trọng để tự do hóa dòng chảy của tiền và người dân trong khu vực.

Để tăng cường phát triển nguồn nhân lực, người ta đã thực hiện xong dự án phát triển tiêu chuẩn năng lực chung vào năm 2008. Kết quả là đã chuẩn hóa được hệ thống các yêu cầu năng lực dạy nghề cho 33 chức danh công việc. Có nghĩa là các kỹ năng và trình độ ở quốc gia này sẽ dễ dàng được các quốc gia thành viên khác công nhận và lần lượt tạo điều kiện cho người lao động du lịch trong khu vực. Đây cũng là tiêu chuẩn chung cho các nước xác định nhân lực nước mình thiếu hụt như thế nào để tập trung đào tạo cho lĩnh vực đó nhiều hơn. Điều này giúp đặt nền tảng cho những nỗ lực nâng cao khả năng cạnh tranh trong tương lai.

Bảng 2 thể hiện các tiến bộ đạt được trong ngành du lịch ASEAN, được cấu trúc theo bảy mục tiêu trong Hiệp định, phân loại thành ba chủ đề lớn. Wong, Mistilis , và Dwyer (trên báo chí ) cho rằng các mục tiêu có thể được phân vào ba nhóm mục tiêu chung : 1) tự do hóa dòng chảy của tiền và dân cư trong vùng ( Mục tiêu 1 , 3 và 4) , 2 ) để tăng khả năng cạnh tranh của ngành du lịch ( Mục tiêu 2 và 6) và 3) để tăng cường đoàn kết và bản sắc của ASEAN như một khu vực ( Mục tiêu 4 và 5) . Những thành tựu quan trọng nhất được liệt kê trong cột cuối cùng

Bảng này cho thấy không có mục tiêu Hiệp định nào đã được đáp ứng đầy đủ. Về việc tạo thuận lợi cho việc đi du lịch ( Mục tiêu 1 ) và thúc đẩy lĩnh vực công và tư nhân (Mục tiêu 3 ), mức độ đạt được được đánh dấu bằng Hiệp định khung miễn thị thực năm 2006 và Diễn đàn đầu tư bắt đầu vào năm 2005. Mục tiêu giảm hạn chế thương mại (Mục tiêu 7) không có kết quả gì đáng kể. Về tăng cường phát triển nguồn nhân lực (Mục tiêu 6), kết quả thực hiện là bộ các tiêu chuẩn năng lực chung đã hoàn thành trong năm 2008. Tuy nhiên, không có bằng chứng cho thấy sự cải thiện ngành du lịch hiệu quả và tăng sức cạnh tranh (Mục tiêu 2). Trong lĩnh vực quảng bá ASEAN như một điểm đến duy nhất (Mục tiêu 5), hoạt động xúc tiến chung về thương mại đã bắt đầu vào năm 2006. Mạng lưới tích hợp dịch vụ du lịch chưa thấy kết quả (Mục tiêu 4).

Đánh giá của chúng tôi về du lịch ASEAN cho thấy thiếu sự tiến triển của các biện pháp đề xuất trong Lộ trình, hoặc không thực hiện được hoặc là đã quá hạn. Theo quan điểm của Powell (1994) về khái niệm hiệu quả thể chế, du lịch ASEAN không hiệu quả trong việc tuân thủ các quy định và thực hiện mục tiêu tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực đã thống nhất. Từ góc độ quản lý, điều này có thể là do các mục tiêu và các biện pháp khó xác định. Một số khái niệm được nêu trong Hiệp định còn mơ hồ, ví dụ như ngành du lịch "hiệu quả và khả năng cạnh tranh" trong Mục tiêu 2 và "mạng tích hợp dịch vụ" trong Mục tiêu 4 . Các báo cáo gốc thể hiện một số các biện pháp được đề xuất trong Lộ trình lại có ít đóng góp để thực hiện hợp tác du lịch. Ví dụ, để giảm những hạn chế đối với thương mại du lịch (Mục tiêu 3), có ý kiến ​​cho rằng đã loại bỏ được những hạn chế về tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia. Tuy nhiên chúng tôi không tin thấy chi tiết cụ thể để chứng mình. Những thiếu sót cho thấy sự vắng mặt của các chuyên gia du lịch trong quá trình hoạch định chính sách và trách nhiệm quản lý thích hợp. Một kế hoạch chiến lược dài hạn và kế hoạch chi tiết đầu tư trong khu vực định hướng tương lai của phát triển du lịch trong khu vực là điều cần thiết để cải thiện tình hình.

Rõ ràng yếu tố liên quan tới sự tiến bộ của ngành du lịch ASEAN phức tạp hơn nhiều so với mục tiêu không rõ ràng hoặc quản lý kém. Hợp tác liên chính phủ là là một bản chất khác, vì vậy để kiểm chứng, chúng tôi cần xác định các vấn đề du lịch ASEAN đang đối mặt; trong phần tiếp theo, chúng tôi dùng cách tiếp cận mới để phân tích sự hợp tác liên chính phủ. Cách tiếp cận này cho phép xác định tốt hơn trong những yếu tố đã tạo điều kiện hoặc cản trở sự tiến triển về Lộ trình ASEAN, và có thể được sử dụng trong xây dựng chính sách.

Nguyễn Lê Giang Thiên dịch từ “A framework for analyzing intergovernmental collaboration – the case of ASEAN tourism, Emma P.Y.Wong, Nina Mistilis, Larry Dwyer.

2.0
Các tin tức đã đăng:
   Khuôn khổ phân tích hợp tác liên chính phủ - trường hợp du lịch ASEAN (16.01.2014)
   Tìm hiểu về các tổ chức nhận tiền gửi Hoa Kỳ (16.01.2014)
   Giới thiệu quỹ ETF tại Việt Nam (29.12.2013)
   Giải phóng sức mạnh của nhân viên để xây dựng thương hiệu nội bộ (06.11.2013)