Chứng khoán phái sinh (19.01.2014)
 

“Rủi ro kinh doanh (Risk Business)”

Các nhà quản lý tài chinh có thể giảm thiểu những lo lắng nếu không có những thay đổi liên tục do thị trường biến động hay công nghệ mới ra đời dẫn đến rủi ro trong kinh doanh ngày càng gia tăng. Chẳng hạn, vào năm 1971 khi tiền tệ được thả nổi tự do, kèm theo những cú sốc về giá dầu, lạm phát tăng cao và biến động rộng trong lãi suất, một sản phẩm – chứng khoán phái sinh đã được phát triển để quản lý rủi ro do biến động giá cả thị trường.

Chứng khoán phái sinh (Derivative)

Chứng khoán phái sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu, nhằm mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận. Các chứng khoán phái sinh sẽ là đòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá trị đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu, hoặc để đảm bảo rằng     nếu giá của cổ phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu thì giá của các công cụ phái sinh sẽ vẫn được duy trì ở mức ban đầu.

Thị trường chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính như quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn. Các công cụ phái sinh rất phong phú và đa dạng nhưng có 4 công cụ chính:

-          Hợp đồng kỳ hạn (Forwards)

-          Hợp đồng tương lai (Futures)

-          Quyền chọn mua hoặc bán (Options)

-          Hợp đồng hoán đổi (Swaps)

Hợp đồng kỳ hạn (Forwards) là một thỏa thuận trong đó một người mua và một người bán chấp nhận thực hiện một giao dịch hàng hóa với khối lượng xác định, tại một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngày hôm nay.

Hợp đồng tương lai (Futures) là việc thỏa thuận giữa các bên về những nghĩa vụ mua bán phải thực hiện theo mức giá đã xác định cho tương lai mà không phụ thuộc vào giá thị trường tại thời điểm đó. Ví dụ: Vào đầu năm 2002, công ty A ký hợp đồng với B mua 100 tấn gạo với giá $2/kg với thời điểm mua vào cuối năm 2003. Như vậy, vào thời điểm mua công ty B phải bán cho công ty A 100 tấn gạo của công ty B với giá đó, cho dù giá gạo trên thị trường vào cuối năm 2003 có thay đổi như thế nào chăng nữa.

Điểm khác biệt của hợp đồng kỳ hạn với hợp đồng tương lai là giá cả do 2 bên tự thỏa thuận với nhau dựa trên những ước lượng mang tính cá nhân và giá này vào thời điểm giao nhận hàng hóa có thể thay đổi, tăng lên hoặc giảm xuống só với mức giá đã ký kết hợp đồng.

Quyền chọn cổ phiếu (Options) là quyền các nhà đầu tư được mua hay bán một số lượng cổ phiếu xác định trước theo một giá đã xác định trước và thấp hơn giá hiện hành của cổ phiếu đó trên thị trường. Có 2 loại quyền chọn là : quyền chọn mua (Call options) và quyền chọn bán (Put options)

Quyền chọn mua (Call options) là loại quyền chọn cho phép bên mua quyền có quyền nhưng không bắt buộc mua một khối lượng chứng khoán nhất định với một mức giá trong thời hạn xác định. Ví dụ: giá cổ phiếu của IBM trong thời điểm hiện tại là $80/cổ phiếu, sau khi phân tích nhà đầu tư dự báo rằng giá cố phiếu sẽ tăng trong thời gian tới. Vậy nếu muốn đầu tư 1000 cổ phiếu của IBM nhà đầu tư phải bỏ ra $80,000. Giả định trong thời gian tới cổ phiếu của IBM chỉ còn $40/cổ phiếu, nhà đầu tư sẽ mất trắng $40,000. Vì vậy, để hạn chế rủi ro nhà đầu tư có thể thực hiện quyền chọn mua cổ phiếu IBM với giá thỏa thuận trước (strike price) là $80/cổ phiếu, thời gian là 2 tháng, số lượng cổ phiếu là 1000 với mức phí quyền chọn (option premium) là $2/cổ phiếu. Trong thời gian này nếu giá cổ phiếu của IBM tăng trên $80/cổ phiếu như dự đoán, nhà đầu tư có thể thực hiện quyền chọn mua cổ phiếu với giá thỏa thuận trước là $80/cổ phiếu và bán ra thị trường với giá $100/cổ phiếu chẳng hạn, nhà đầu tư sẽ có lợi nhuận là $20,000, trừ đi chi phí cho quyền chọn mua là $2000, như vậy lợi nhuận thuần sẽ là $18,000. Nhưng nếu như giá cổ phiếu không tăng mà liên tục tụt giảm thì nhà đầu tư có thể thực hiện quyền không chọn mua cổ phiếu và chỉ trả một khoản chi phí cho quyền chọn mua là $2000. Như vây, người mua quyền chọn chỉ chịu lỗ ở mức giới hạn, trong khi lợi nhuận là rất lớn. Người bán quyền chọn cũng có lợi nhuận từ phí mua quyền chọn.

Quyền chọn bán (Put options) là loại quyền cho phép bên mua quyền có quyền nhưng không bắt buộc bán một khối lượng chứng khoán nhất định với một mức giá và trong thời hạn xác định. Ví dụ: Với 100 cổ phiếu IBM trị giá $80/cổ phiếu, nhà đầu tư có thể mua quyền chọn bán để đảm bảo rằng trong 3 tháng tới, bất kỳ lúc nào cũng có thể bán được 100 cổ phiếu đó với giá $80/cổ phiếu.

Hợp đồng hoán đổi (Swap) là việc 2 bên đối tác trao đổi quyền một dòng tiền (cash flow) này lấy một dòng tiền khác của bên kia. Các hợp đồng hoán đổi thường được dùng để ngăn các rủi ro về tài chính như rủi ro về lãi suất thay đổi, rủi ro về tỷ giá, rủi ro về giá cổ phiếu. Ví dụ: A có một khoản tiền gởi $100,000 với lãi suất cố định 5%/năm. B cũng có một khoản đầu tư là $100,000 với lãi suất biến động bình quân là 5%/năm. A và B ký hợp đồng hoán đổi, theo đó B sẽ trả cho A số cổ tức từ khoản đầu tư của B, còn A trả cho B lợi tức $5000/năm.       

Lê Thị Bích Ngọc

3.0
Các tin tức đã đăng:
   Khuôn khổ phân tích hợp tác liên chính phủ - trường hợp du lịch ASEAN (phần 2) (19.01.2014)
   Khuôn khổ phân tích hợp tác liên chính phủ - trường hợp du lịch ASEAN (16.01.2014)
   Tìm hiểu về các tổ chức nhận tiền gửi Hoa Kỳ (16.01.2014)
   Giới thiệu quỹ ETF tại Việt Nam (29.12.2013)